Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 3)

Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 3)

Truc 360textile.vn

Moderator

Thành viên BQT
Danh tiếng: 100%
Điểm
28,898

3. Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển thị trường KHCN cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0​

3.1. Giải pháp phát triển thị trường KHCN cho ngành Dệt may giai đoạn 2025-2030​

Về phía cầu công nghệ, các DN dệt may cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:

- Trong chiến lược sản xuất - kinh doanh, các DN cần làm rõ chiến lược sử dụng công nghệ của CMCN 4.0 trong giai đoạn 2025-2030 để phát triển DN.

- DN cần xác định các sản phẩm chủ chốt và thị trường tiêu thụ chính trong giai đoạn 2025-2030 để từ đó lựa chọn được công nghệ của CMCN 4.0 phù hợp với việc sản xuất - kinh doanh theo chuỗi từ khâu thiết kế, nguyên liệu, sản xuất, xuất khẩu và phân phối để hình thành sản phẩm.

- DN cần thành lập đơn vị chuyên trách về R&D để triển khai có hiệu quả các công nghệ mới vào DN.

Về phía cung công nghệ, các viện, trường cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

- Tăng cường tiếp cận với các DN, các tổ chức trung gian KHCN để xác định đúng nhu cầu công nghệ của các DN dệt may trong giai đoạn 2025-2030. Từ đó, xây dựng chiến lược nghiên cứu để sáng tạo các sản phẩm KHCN đáp ứng yêu cầu phát triển của DN trong bối cảnh việc số hóa, tự động hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại các DN.

- Cung cấp đầy đủ thông tin cho DN về các sản phẩm KHCN của đơn vị cũng như những dữ liệu về các công nghệ mới nhất hiện có trên thế giới trong lĩnh vực dệt may. Các thông tin cung cấp cần phải đầy đủ về mức đầu tư, thời gian hoàn vốn, hiệu quả dự kiến, trình độ cần thiết của nhân lực để triển khai công nghệ có hiệu quả.

3.2. Kiến nghị với Bộ Khoa học công nghệ để phát triển thị trường KHCN cho ngành Dệt may​

- Nghiên cứu thành lập tổ chức trung gian của thị trường KHCN cho ngành Đệt may. Các công việc cụ thể cần thực hiện là:

+ Thành lập 4 tổ chức trung gian bao gồm: 2 tổ chức trung gian tại 2 cơ sở đào tạo ở miền Bắc và miền Nam; 2 tổ chức trung gian tại 2 DN ở miền Bắc và miền Nam.

+ Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu, cổng thông tin, trang thông tin điện tử về thị trường KHCN ngành Dệt may nhằm hỗ trợ các bên cung cầu và tổ chức trung gian của thị trường KHCN dệt may.

- Hỗ trợ DN dệt may thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo.

+ Hỗ trợ thành lập 5 trung tâm đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển tại các DN lớn ở 3 miền Bắc, Trung, Nam (theo mô hình có phòng Lab, nghiên cứu theo chuỗi dệt may, phát triển sản phẩm mới...).

+ Xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo.

- Đánh giá nhu cầu và khả năng cung ứng công nghệ trong ngành công nghiệp dệt may.

+ Dự báo, đánh giá nhu cầu và khả năng cung ứng công nghệ trong ngành Dệt may giai đoạn 2025 – 2030.

+ Thiết lập được mạng lưới chuyên gia tư vấn, hỗ trợ DN tiếp cận thông tin, đầu tư, chuyển giao công nghệ. Mạng lưới này bao gồm các chuyên gia giỏi đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, các kỹ sư giàu kinh nghiệm, kỹ thuật viên, nghệ nhân tay nghề cao.

+ Kết nối thí điểm một số dự án cung - cầu công nghệ trong ngành Dệt may, làm cơ sở để nhân rộng ra toàn ngành.

- Đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ cho các chuyên gia của các tổ chức trung gian thị trường KHCN dệt may và các giảng viên, nghiên cứu viên của các trường đại học chuyên ngành Dệt may.

- Xúc tiến, kết nối cung cầu công nghệ, thiết bị giữa các DN dệt may và nhà cung ứng trong - ngoài nước nhằm thúc đẩy thị trường KHCN cho ngành Dệt may.

- Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với DN dệt may để thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào sản xuất - kinh doanh.

3.3. Kiến nghị với Chính phủ về các chính sách vĩ mô để phát triển thị trường KHCN cho ngành dệt may​

- Chính phủ xem xét và cho phép thành lập các khu công nghiệp dệt may lớn với diện tích từ 500 ha trở lên, được đầu tư đồng bộ về công nghệ sản xuất và công nghệ xử lý môi trường hiện đại. Đây là tiền đề quan trọng để các DN dệt may có thể đầu tư công nghệ mới của CMCN 4.0 một cách đồng bộ trong toàn chuỗi cung ứng dệt may.

- Chính phủ có các ưu đãi về thuế thu nhập DN, lãi vay... cho các dự án đầu tư công nghệ của CMCN 4.0 trong lĩnh vực dệt may. Đây là tiền đề quan trọng giúp các DN huy động nguồn lực tài chính để đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trong giai đoạn 2025 - 2030 khi CMCN 4.0 trở nên phổ biến với ngành Dệt may thế giới.

- Chính phủ, Quốc hội xem xét điều chỉnh luật quản lý tài sản công liên quan đến thương mại hóa tài sản trí tuệ để các viện nghiên cứu, trường đại học có thể dễ dàng định giá tài sản trí tuệ, phục vụ cho thương mại hóa; bên cạnh đó, kiến nghị với nhà nước sửa Luật Quản lý tài sản công để có mức hỗ trợ hợp lý cho các đơn vị, cá nhân sử dụng tài sản trí tuệ công hình thành trong quá trình nghiên cứu nhằm khuyến khích đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào nền kinh tế. Về Luật Viên chức, kiến nghị với Nhà nước xem xét chỉnh sửa luật để tác giả các nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu có thể tham gia quản lý, điều hành các DN KHCN. Đông thời, kiến nghị với Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu điều chỉnh các chính sách về xếp hạng trường đại học, công nhận học hàm giáo sư và phó giáo sư cần nhấn mạnh vào các công trình nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Bộ Công Thương (2018), Báo cáo đánh giá sự sẵn sàng tiếp cận cuộc cách mạng 4.0 của các doanh nghiệp thuộc các ngành Công nghiệp ở Việt Nam: Kết quả phân tích số liệu điều tra khảo sát, Hà Nội.
  2. CIEM. (2017b). Mức độ sẵn sàng tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 của Việt Nam: So sánh với trường hợp của Trung Quốc, Hà Nội.
  3. Lê Tiến Trường và Hoàng Xuân Hiệp (2020), Ngành Dệt may Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội.
  4. Hoàng Xuân Hiệp (2017), Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt may Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Công Thương số 12, tr 188-192, Hà Nội.
  5. Nguyễn Thị Hường (2023), Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho khâu chuẩn bị sản xuất trong nhà máy may, Đề tài cấp nhà nước mã số 03.12/NSCL-2022, Hà Nội.
  6. Tổng cục Thống kê (2023), Niên giám thống kê 2022, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
  7. Vitas (2024), Bản tin dệt may số 1+2/2024, Hà Nội.
Solutions for the development of the science and technology market for the textile and garment industry in the context of Industry 4.0​

Ph.D Hoang Xuan Hiep

Hanoi Industrial Textile Garment University

ABSTRACT:

The supply chain of the global textile and garment industry has witnessed significant changes over the past 5 years due to scientific and technological achievements, especially since the achievements of the Fourth Industry Revolution (Industry 4.0) have been applied throughout the chain. However, Vietnam’s textile and garment industry depend heavily on imported, costly technologies. This paper evaluated the shortcomings of the science and technology market for the Vietnamese textile and garment industry. Based on the paper’s findings, some solutions were proposed to develop the science and technology market for the textile and garment industry in the context of the 4.0 Industry.

Keywords: science and technology market, textile industry, garment industr
Theo Tạp Chí Công Thương
 
Back
Top