Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 2)

Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 2)

Truc 360textile.vn

Moderator

Thành viên BQT
Danh tiếng: 100%
Điểm
28,898

2. Các bất cập về thị trường công nghệ cản trở ngành Dệt may tiếp cận với công nghệ mới​

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trình độ công nghệ của ngành Dệt may thấp như thể hiện tại Bảng 1 và Hình 1; tốc độ đổi mới công nghệ của ngành thấp như thể hiện tại Bảng 2 nhưng một nguyên nhân lớn là thị trường KHCN cho ngành Dệt may còn nhiều bất cập.

2.1. Những bất cập về phía cung, cầu công nghệ cho ngành dệt may​

Thị trường KHCN chưa cung cấp được cho DN dệt may các hàng hóa công nghệ giúp ngành Dệt may sản xuất theo chuỗi: Nguồn cung các sản phẩm KHCN hiện tại cho DN dệt may chỉ tập trung chủ yếu vào từng khâu riêng biệt trong quá trình sản xuất như sử dụng các phần mềm thiết kế 3D cho khâu thiết kế, hay sử dụng hệ thống quản lý sản xuất thông minh (MES) cho khâu sản xuất... nhưng các sản phẩm KHCN này chưa giúp DN tự động hóa theo chuỗi cung ứng sản phẩm dệt may từ khâu thiết kế, cung cấp nguyên liệu, sản xuất, xuất khẩu và phân phối sản phẩm. Điển hình cho bất cập này là ngành Dệt may Việt Nam năm 2023 đã xuất khẩu 4,3 tỷ USD xơ sợi nhưng lại phải nhập khẩu 2,1 tỷ USD xơ sợi khác để sản xuất vải; nguyên nhân chính là công nghệ sản xuất sợi trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu đối với sản phẩm sợi để cung cấp cho DN dệt trong nước [7].

DN dệt may khó tiếp cận dữ liệu về nguồn cung công nghệ trong nước và quốc tế: Hiện nay, tại Việt Nam chưa hình thành và phát triển tổ chức trung gian riêng của thị trường KHCN cho ngành Dệt may: Các DN dệt may không nắm được các đơn vị sở hữu các nghiên cứu về KHCN trong lĩnh vực dệt may nên không có thông tin để cân nhắc việc ứng dụng KHCN. Mặt khác, các cơ sở nghiên cứu như trường đại học, viện nghiên cứu cũng không nắm được nhu cầu sử dụng công nghệ của DN dệt may. Nguyên nhân của bất cập này là do chưa có một tổ chức trung gian đủ mạnh để kết nối cung cầu trong lĩnh vực dệt may.

Chưa tổ chức được hệ thống cơ sở dữ liệu về phía cung và cầu khoa học công nghệ cho ngành dệt may. Chính vì chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nên việc tiếp cận với các công trình nghiên cứu của các viện, trường cũng như nhu cầu đầu tư công nghệ mới của các DN hết sức khó khăn. DN rất thiếu thông tin để lựa chọn công nghệ phù hợp như: mức đầu tư của công nghệ, thời gian hoàn vốn, kỹ năng cần thiết của nhân lực để vận hành công nghệ có hiệu quả....

Việc xúc tiến thị trường KHCN của ngành Dệt may chưa được triển khai đáng kể tại Việt Nam. Cụ thể là tại Việt Nam chưa có nhiều hoạt động mang tính toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về xúc tiến thương mại cho thị trường công nghệ, triển khai, tổ chức các dự án, chương trình hợp tác, chia sẻ chuyên gia, kết nối chuyển giao công nghệ giữa DN dệt may với các đối tác công nghệ trong và ngoài nước, đặc biệt là giữa DN dệt may với các trung tâm nghiên cứu khoa học như trường đại học, viện nghiên cứu về dệt may. Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có các chuyên gia có kỹ năng tốt về xúc tiến thương mại cho các sản phẩm KHCN của ngành Dệt may. Mặt khác, cơ chế chính sách nhà nước cũng như nhu cầu tự thân của các DN và các trường đào tạo, viện nghiên cứu chưa khuyến khích các bên tích cực sử dụng sản phẩm khoa học của các trường, viện sáng tạo ra.

2.2. Tại Việt Nam chưa hình thành trung tâm tư vấn hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho ngành Dệt may​

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có Trung tâm đổi mới sáng tạo riêng cho ngành Dệt may, việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam cũng như DN dệt may Việt Nam thấp. Đối với DN dệt may, các định hướng đầu tư công nghệ mới chưa được thể hiện rõ nét trong chiến lược sản xuất - kinh doanh. Việc tiếp thu công nghệ mới thông qua hoạt động của các doanh nghiệp FDI cũng không đạt hiệu quả cao: 12,24% số DN chưa có hoạt động R&D; 68,37% DN có bộ phận R&D nằm trong bộ phận khác; chỉ có 19,39% DN có bộ phận R&D riêng biệt [3].

2.3. Công tác đào tạo nâng cao năng lực nghiệp vụ cho các chuyên gia tư vấn, kiểm định, thẩm định hàng hóa công nghệ còn rất nhiều hạn chế​

Thực tế là tại Việt Nam chưa có hệ thống chuyên gia đủ năng lực tư vấn cho DN dệt may đầu tư theo chuỗi, tính toán được khả năng hoàn vốn khi đầu tư. Nguyên nhân của tình trạng này là công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ chuyên gia làm công tác tư vấn chuyển giao công nghệ, kiểm định, thẩm định hàng hóa công nghệ trong lĩnh vực dệt may còn hạn chế.

2.4. Các chính sách ưu đãi thuế, vốn vay, hạ tầng kỹ thuật cho các dự án ứng dụng công nghệ cao hầu như chưa được quan tâm đúng mức​

Thực tế là đa số các DN dệt may của Việt Nam là DN vừa và nhỏ, chiếm 85% tổng số DN dưới 200 lao động và 86,3% DN có vốn dưới 50 tỷ [7], vì thế tiềm năng về vốn, hạ tầng kỹ thuật để đầu tư đổi mới công nghệ là không cao. Mặc dù các DN dệt may gặp nhiều khó khăn trong đổi mới công nghệ như trên nhưng hiện tại, Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho các DN dệt may thông qua các cơ chế không vi phạm các quy định của WTO như: hỗ trợ thông qua việc giảm thuế hoặc hỗ trợ thông qua ưu đãi lãi vay khi đầu tư các công nghệ hiện đại, đặc biệt là các công nghệ của CMCN 4.0.

Về hạ tầng kỹ thuật, để có thể đổi mới công nghệ một cách căn cơ trong toàn chuỗi cung ứng dệt may thì cần có liên kết theo chuỗi của các DN dệt may tại tất cả các khâu từ thiết kế, nguyên liệu, sản xuất, xuất khẩu và marketing. Theo kinh nghiệm phát triển ngành Dệt may của nhiều nước mạnh về ngành này như Trung Quốc, Ấn Độ thì cần hình thành các khu công nghiệp dệt may lớn, có diện tích từ 500 ha trở lên. Tuy vậy, định hướng chính sách của Nhà nước cho việc này còn chưa rõ ràng, đặc biệt là các địa phương vẫn có tâm lý e ngại vấn đề môi trường đối với khâu dệt nhuộm.

2.5. Chính sách của Nhà nước liên quan đến thương mại hóa sản phẩm KHCN​

Các chính sách của Nhà nước liên quan đến việc thương mại hóa các sản phẩm KHCN là tài sản công còn nhiều vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai như:

- Luật Quản lý sử dụng tài sản công quy định phải định giá tài sản công trước khi thương mại hóa nhưng trong thực tế rất khó thực hiện định giá tài sản trí tuệ. Bên cạnh đó, Luật còn yêu cầu hoàn trả phần đầu tư của Nhà nước cho nghiên cứu cũng là yêu cầu khiến DN góp vốn cho nghiên cứu chịu nhiều rủi ro vì các chi phí phát sinh sau nghiên cứu để có thể thương mại hóa thường khá cao... các yếu tố này đã cản trở việc tiếp cận nguồn cung công nghệ.

- Luật Viên chức chưa cho phép nhà khoa học tham gia quản lý, điều hành DN KHCN do chính mình góp phần tạo ra tài sản trí tuệ góp vốn vào DN, điều này đã cản trở việc hình thành các spin off có nguồn gốc từ các nghiên cứu của các viện nghiên cứu, trường đại học công.

- Bên cạnh đó, các chính sách của Nhà nước về việc xếp hạng các trường đại học, công nhận học hàm phó giáo sư và giáo sư cũng chưa căn cứ nhiều vào các công trình nghiên cứu được chuyển giao cho DN mà chỉ căn cứ chủ yếu vào các bài báo được xuất bản trong danh mục ISI, Scopus cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho các nghiên cứu nặng về nội dung để đăng báo chứ không hướng nhiều về ứng dụng tại DN làm nguồn cung công nghệ bị hạn chế.
 
Back
Top