Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 1)

Giải pháp phát triển thị trường khoa học, công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 ( phần 1)

Truc 360textile.vn

Moderator

Thành viên BQT
Danh tiếng: 100%
Điểm
28,898

1. Trình độ công nghệ và tốc độ đổi mới công nghệ của ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0

1.1. Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển của ngành Dệt may Việt Nam

Ngành Dệt may Việt Nam có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, xuất khẩu của ngành năm 2023 đạt 39,55 tỷ USD và đóng góp 11,1% vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong năm 2023, ngành Dệt may đã xuất siêu 17,8 tỷ USD; nếu loại trừ phần giá trị nhập khẩu nguyên liệu chỉ để sản xuất trong nước thì thặng dư thương mại của ngành năm 2023 đạt 20,5 tỷ USD, đồng nghĩa với việc 51,9% giá trị kim ngạch xuất khẩu dệt may được nội địa hóa, góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam [7]. Bên cạnh đó, ngành còn tạo việc làm cho hơn 1,8 triệu lao động công nghiệp làm việc trong 13.801 doanh nghiệp (DN) dệt may với mức thu nhập bình quân 8,6 triệu/người/tháng, tương đương với 6,45 tỷ USD tiền lương được đưa vào nền kinh tế [6].
Trong bối cảnh ngành Dệt may thế giới hướng tới ứng dụng các thành quả của cuộc CMCN 4.0 vào sản xuất, ngành Dệt may Việt Nam cũng có nhiều nỗ lực ứng dụng các công nghệ của CMCN 4.0 để nâng cao sức cạnh tranh thông qua năng suất lao động. Theo tính toán của tác giả, căn cứ vào số liệu của Tổng cục thống kê năm 2022 cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2021, năng suất lao động của ngành Dệt may tăng đáng kể, gấp 2,04 lần; vào năm 2010, ngành Dệt may cần 93.000 người để tạo ra 1 tỷ USD xuất khẩu thì vào năm 2021, ngành chỉ cần 45.696 người để tạo ra 1 tỷ USD xuất khẩu. Các nghiên cứu về năng suất lao động của ngành Dệt may đều chứng tỏ năng suất lao động tăng lên là có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do có sự tác động mạnh của việc đầu tư công nghệ mới trong các DN dệt may Việt Nam [6].​

1.2. Sự phát triển của Khoa học công nghệ (KHCN) trong lĩnh vực dệt may

CMCN 4.0 đã tác động mạnh nhất tới ngành Dệt may trong nhiều năm trở lại đây, từ khâu thiết kế sản phẩm, cung ứng nguyên phụ liệu, sản xuất, xuất khẩu đến khâu marketing.
Trong khâu thiết kế: Nhà thiết kế sử dụng các kỹ thuật quang học kết hợp với các thiết bị cảm biến ánh sáng để thu thập số đo cơ thể người ở bất cứ địa điểm nào mà không cần phải di chuyển đến địa điểm đó như công nghệ đo 3D trước đây nhằm cá nhân hóa thiết kế đến từng người dùng.
Trong khâu sản xuất sợi: quá trình tự động hóa được áp dụng vào tất cả công đoạn từ chuẩn bị bông đến đóng gói sản phẩm; điển hình như công nghệ kiểm soát chất lượng tự động đến từng cọc sợi, vận chuyển cúi và bán thành phẩm tự động trên ray, kiểm soát nhà máy sợi bằng hệ thống thông minh, tự động đóng gói thành phẩm...
Trong khâu dệt vải: CMCN 4.0 đã giúp DN có thể dệt trực tiếp ra sản phẩm bằng máy dệt kim 3D mà không cần quá trình may. Bên cạnh đó, trong công nghệ dệt thoi, hệ thống internet kết nối vạn vật IoT kết hợp với sử dụng công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID cho phép quản lý nhà máy dệt bằng hệ thống thông minh. Hơn nữa, cũng nhờ sự phát triển của CMCN 4.0 mà nhiều vật liệu mới có tính năng đặc biệt đã được sáng tạo để sản xuất trang phục đặc biệt như vật liệu có tính năng chống cháy, kháng khuẩn hoặc kiểm soát tình trạng sức khỏe...
Trong khâu nhuộm, hoàn tất: bên cạnh việc ứng dụng các robot và tự động hóa cao trong quy trình sản xuất, ngành nhuộm còn sử dụng dữ liệu lớn để tổ chức lưu trữ các công thức nhuộm trong quá khứ thành công để từ đó sáng tạo ra các công thức nhuộm mới với độ chính xác cao; sử dụng trí tuệ nhân tạo để dự đoán sự phù hợp về màu cho nhuộm và in bằng chất màu tự nhiên, phân loại lỗi nhuộm nhờ công nghệ xử lý ảnh và mạng nơ-ron mờ.
Trong khâu may: đối với các sản phẩm cơ bản như áo T-Shirt, áo sơ mi cơ bản, quần âu, quần jean thì quá trình sản xuất đã được thay thế bằng robot hoặc tự động hóa từng phần giúp nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành sản phẩm. Đối với các sản phẩm thời trang nhưng được chế tạo bằng vật liệu có thể kết dính như plastic hay sợi polyester... thì quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện trên máy in 3D, tuy vậy, công nghệ này cũng chỉ sử dụng được với vật liệu tự kết dính, khó phổ biến trong thực tế do mức độ thấm hút thấp.
Trong toàn bộ chuỗi sản xuất dệt may, bên cạnh việc ứng dụng các công nghệ của CMCN 4.0 trong sản xuất, các DN còn đổi mới cả quy trình quản lý bằng cách ứng dụng các phần mềm thông minh như phần mềm quản lý nguồn lực doanh nghiệp ERP, quản lý vòng đời sản phẩm PLM cho phép quản lý toàn bộ nguồn lực chủ yếu của DN từ đầu vào đến khi xuất hàng cũng như quản lý thông tin sản phẩm từ giai đoạn sản xuất đến khi khách hàng không sử dụng [4]​

1.3. Trình độ công nghệ và tốc độ đổi mới công nghệ của dệt may Việt Nam

1.3.1 Trình độ công nghệ của ngành Dệt may Việt Nam

Trình độ công nghệ của ngành Dệt may trong tất cả các lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm, may được đánh giá thông qua các chỉ số khảo sát về việc ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0 vào ngành như tại Bảng 1.​
Bảng 1. Mức độ sử dụng công nghệ của CMCN 4.0 tại DN dệt may
Giải pháp phát triển thị trường khoa học công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng ...png

Kết quả tại Bảng 1. cho thấy, công nghệ của CMCN 4.0 được các DN dệt may sử dụng nhiều nhất là công nghệ cảm biến và công nghệ di động (cùng mức điểm bình quân là 3,25, chỉ trên mức trung bình không đáng kể). Các công nghệ còn lại như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, nhận diện giọng nói và robot còn ít được sử dụng trong các DN dệt may với mức điểm bình quân dưới 3,0.
Bên cạnh việc ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0, trình độ công nghệ của ngành Dệt may còn được đánh giá bằng mức độ hiện đại của máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất. Chỉ số này được thể hiện trong Hình 1.​
Giải pháp phát triển thị trường khoa học công nghệ cho ngành Dệt may trong bối cảnh cách mạng ...png

Kết quả tại Hình 1 cho thấy, điểm đánh giá trung bình về mức độ hiện đại của máy móc thiết bị và việc vận chuyển trên chuyền của các DN tính theo trung bình cả 4 nhóm ngành Sợi, Dệt, Nhuộm, May chỉ đạt dưới 3,5 điểm trên thang đo likert 5 cấp độ. Sợi là nhóm có điểm trung bình cao nhất mới đạt 3,01. Những DN có điểm trung bình về trình độ công nghệ cao lại là nhóm DN có vốn nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài. Các DN có vốn Nhà nước hoặc công ty cổ phần trong nước điểm trung bình (TB) chỉ đạt dưới mức 2,5.​

1.3.2. Tốc độ đổi mới công nghệ của ngành Dệt may Việt Nam

Mặc dù ngành Dệt may Việt Nam đã nỗ lực đổi mới công nghệ trong khoảng 5 năm trở lại đây bằng cách ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0 nhưng có thể thấy, tốc độ đổi mới công nghệ của ngành còn chậm, thể hiện ở chỉ số sẵn sàng cho CMCN 4.0 của ngành Dệt may còn thấp.(Bảng 2)​
Bảng 2. Tính sẵn sàng cho CMCN 4.0 của các DN dệt may Việt Nam 2019
Đơn vị: hệ số thang đo/5​
Tiêu chí​
Điểm đánh giá thực trạng và mức độ sẵn sàng​
TB toàn ngành​
Sợi​
Dệt​
Nhuộm​
May​
TB​
Min​
Max​
TB​
Min​
Max​
TB​
Min​
Max​
TB​
Min​
Max​
Mức độ sẵn sàng​
3,02​
2,55​
3,44​
2,40​
1,80​
3,52​
2,30​
1,63​
3,53​
2,85​
1,00​
4,01​
2,73​
Nguồn: [3]
Số liệu tại Bảng 2 cho thấy, mức độ sẵn sàng của toàn ngành Dệt may là 2,73. Tuy vậy, mức độ sẵn sàng của từng lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm, may rất khác nhau. Trong 4 ngành khảo sát, tính sẵn sàng của các DN sợi là cao nhất với giá trị là 3,02, tính sẵn sàng của các DN may là 2,85. Tính sẵn sàng của các DN dệt và nhuộm thấp hơn của các DN sợi và may; tính sẵn sàng của DN dệt là 2,4 và DN nhuộm là 2,3.​
 
Back
Top